Liên minh hợp tác xã Kiên Giang

Nông nghiệp

Xem với cỡ chữAA

Kiên Giang: Phấn đấu đưa công nghệ cao vào mô hình hợp tác xã nông nghiệp

(10:14 | 11/02/2019)

Hiện cả nước có 193, nhưng chỉ có 1,65% hợp tác xã nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất gồm: 155 hợp tác xã trồng trọt, lâm nghiệp, 18 hợp tác xã chăn nuôi, 20 hợp tác xã thủy sản. Các địa phương có nhiều hợp tác xã ứng dụng mô hình nông nghiệp công nghệ cao như: Lâm Đồng 36 hợp tác xã, Long An 14, Hà Nội 13, TP Hồ Chí Minh 11 hợp tác xã... Trong khi đó, đối với Kiên Giang thì việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất còn là một chuyện rất xa vời. Bởi quy mô sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, việc liên kết chuyển giao công nghệ trong chuỗi giá trị nông sản yếu kém... nên việc áp dụng công nghệ cao là rất khó. Tuy nhiên, với quyết tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành trong thời gian tới tỉnh phấn đấu sẽ đạt được những mong muốn nhất định.

 

 Với xu thế hiện nay, để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản, các hợp tác xã cần phải tính đến chuyện ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp. Mặt khác, do những yếu kém nội tại, không chỉ thiếu vốn đầu tư, mà quỹ đất dành cho phát triển sản xuất cũng hạn chế nên không ít hợp tác xã chưa phát huy được hiệu quả khi triển khai ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. Mặt khác, các mô hình ứng dụng công nghệ cao mới làm từng phần nhỏ lẻ, thiếu đồng bộ từ đầu tư con giống đến sản xuất, sơ chế, chế biến sản phẩm. Các hợp tác xã cũng chưa nắm bắt được thị trường công nghệ, nhất là thiếu nguồn nhân lực trong quản trị, quản lý điều hành để lựa chọn công nghệ cao vào sản xuất.

 

Các mô hình ứng dụng công nghệ cao mới làm từng phần nhỏ lẻ, thiếu đồng bộ…

 

Đối với một hợp tác xã công nghệ cao, khi hình thành dứt khoát phải xây dựng phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, có quy mô phù hợp với từng loại sản phẩm. Liên quan đến nhiệm vụ này, các sở, ngành liên quan phải tiếp tục hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho hợp tác xã, bao gồm cả nhân lực quản lý và thực hành công nghệ cao; hỗ trợ vốn, tín dụng và các chính sách theo quy định để tạo điều kiện cho hợp tác xã phát triển thuận lợi khi ứng dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp...

 

Theo đánh giá của Cục Kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) thì hiện các mô hình ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp của hợp tác xã vẫn còn nhỏ lẻ, phân tán, chậm được nhân rộng. Phần lớn các mô hình ứng dụng công nghệ mới áp dụng một khâu hoặc một công đoạn sản xuất. Ngoài ra, việc liên kết chuyển giao công nghệ cao giữa hợp tác xã và doanh nghiệp trong chuỗi giá trị nông sản còn yếu; hoạt động xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường cho các sản phẩm nông sản công nghệ cao vẫn rất mờ nhạt.

 

Bên cạnh đó, hầu hết hợp tác xã đều thiếu quỹ đất tập trung để phát triển công nghệ cao hoặc chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chưa yên tâm đầu tư, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất.

 

Ở Kiên Giang, một vài hợp tác xã chỉ mới bắt đầu hình thành khu nhà màng công nghệ cao trồng rau an toàn, nhưng gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng để đầu tư máy móc, trang thiết bị vào sản xuất; ngoài ra thiếu đất đai làm trụ sở giao dịch và mặt bằng kinh doanh, xây dựng nhà màng, khu nhà sơ chế, chế biến, kho lạnh.

 

Ở Kiên Giang, một vài nơi hình thành được mô hình sản xuất công nghệ cao ổn định nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn về vốn, đầu ra sản phẩm….

 

Bên cạnh đó, nhận thức, hiểu biết của cán bộ và thành viên hợp tác xã về nông nghiệp công nghệ cao còn hạn chế, chưa kể chi phí đầu tư tốn kém nên vấn đề này chưa thực sự được quan tâm. Dù công việc đòi hỏi phải có trình độ kỹ thuật mới làm chủ được công nghệ, thế nhưng mức thu nhập chưa hấp dẫn nên khó thu hút được lao động làm việc ở khu vực kinh tế hợp tác.

 

Theo Bộ NN&PTNT, cả nước phấn đấu đến năm 2020 có 500 hợp tác xã nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất; nâng giá trị sản lượng của các sản phẩm nông nghiệp sản xuất nhờ ứng dụng công nghệ cao lên gấp 5 lần so với hiện nay và thu nhập trên đơn vị diện tích hoặc đơn vị sản phẩm tăng từ 1,5 lần lên 3 lần so với sản phẩm thông thường không áp dụng công nghệ cao...

 

Để hoàn thành chỉ tiêu trên, nhiều ý kiến đề xuất, các bộ, ngành liên quan, chính quyền địa phương cần đẩy mạnh thực hiện cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã nông nghiệp, ưu tiên hỗ trợ đơn vị ứng dụng công nghệ cao, đồng thời tăng cường công tác tư vấn, hỗ trợ thông tin công nghệ, thị trường, tổ chức sản xuất cho hợp tác xã.

 

Cần hỗ trợ nhiều cơ chế chính sách để mô hình công nghệ cao hoàn thiện và phát triển mạnh

 

Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Trần Thanh Nam: “Nhà nước đang có chủ trương tập trung đất đai để sản xuất lớn gắn với công nghệ cao. Hợp tác xã là mô hình tập trung đất đai sản xuất hiệu quả và có thể là giải pháp hiệu quả nhất trong tình hình hiện nay, nhưng không nhất thiết phải có hàng trăm hay hàng chục héc ta mà vẫn có thể bảo đảm nâng cao hiệu quả giá trị trên một đơn vị diện tích canh tác. Các địa phương trong quy hoạch khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cần chủ động trong việc cân đối ngân sách địa phương cũng như huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng nông nghiệp công nghệ cao, giảm sự phụ thuộc vào ngân sách trung ương để mô hình này ngày càng phát triển, tạo việc làm nâng cao thu nhập cho các hợp tác xã”.

 

Hiện nay, phần lớn HTX đang áp dụng công nghệ cao ở khâu sản xuất. Trong đó chủ yếu áp dụng ở một khâu hay một công đoạn của sản xuất. Về phía Liên minh HTX Việt Nam cho rằng, các HTX trong nông nghiệp còn đang đứng trước nhiều thách thức, khó khăn, tồn tại. Họ không chỉ “thiếu” vốn, mà còn thiếu quỹ đất để ứng dụng công nghệ và công nghệ cao ở quy mô lớn vào sản xuất. HTX còn thiếu thông tin, chưa nắm bắt thị trường công nghệ và quan trọng hơn thiếu cả nguồn nhân lực trong quản trị và quản lý ở HTX.

 

Nhiều HTX không chỉ thiếu vốn, mà còn thiếu quỹ đất để ứng dụng công nghệ và công nghệ cao ở quy mô lớn vào sản xuất

 

Cái khó nhất vẫn là vấn đề khó khăn về vốn, mặc dù Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 07/3/2017, giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo các ngân hàng thương mại, chủ lực là các ngân hàng thương mại nhà nước, dành khoảng 100.000 tỷ đồng từ nguồn vốn huy động của các ngân hàng để thực hiện chương trình cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch với lãi suất ưu đãi.

 

Thống kê từ Liên minh HTX Việt Nam cho thấy, chỉ khoảng 2% số hợp tác xã tiếp cận được vốn vay, còn phần lớn vẫn tự xoay sở. Thiếu vốn khiến nhiều hợp tác xã không thể mở rộng sản xuất kinh doanh, thậm chí còn có khả năng rơi vào nguy cơ phá sản, còn những hợp tác xã muốn vươn lên tiếp cận công nghệ cao lại gặp rất nhiều khó khăn.

 

Ở Kiên Giang, theo Ông Đỗ Minh Nhựt, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh cho biết, tỉnh đang ứng dụng công nghệ cao trong trồng trọt, phát triển sản xuất hàng hóa theo hướng hiện đại, đạt năng suất, đảm bảo chất lượng, nâng cao giá trị gia tăng và bền vững. 

 

Theo đó, trong thời gian tới, tỉnh Kiên Giang sẽ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới kết hợp với các phương pháp chọn giống truyền thống nhằm chọn tạo các giống lúa có khả năng chịu mặn từ bằng đến trên 4‰, chịu hạn 15 - 20 ngày; ứng dụng phương pháp lai hồi giao kết hợp với chỉ thị phân tử; phương pháp nuôi cấy túi phấn; ứng dụng công nghệ tế bào; thanh lọc mặn, hạn để chọn ra những dòng lúa có khả năng chống chịu tốt nhất; đồng thời, tiếp tục nghiên cứu, sản xuất giống một số đối tượng cây trồng như: dứa, hoa chuông, hoa lan, chuối… 

 

Tỉnh Kiên Giang sẽ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới vào nuôi trồng sản xuất

 

Năm 2019, một số địa phương trong tỉnh sẽ thực hiện kế hoạch hỗ trợ xây dựng chứng nhận VietGAP, hữu cơ cho sản phẩm nông sản như: lúa (Hòn Đất, Giồng Riềng, An Biên); hồ tiêu, khoai lang, ổi (Giồng Riềng); chanh, rau, khóm (Châu Thành); nấm rơm (Phú Quốc), lúa hữu cơ (An Biên, An Minh),…

 

 

Kiên Giang sẽ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới kết hợp với các phương pháp chọn giống truyền thống nhằm chọn tạo các giống lúa có khả năng chịu mặn cao

 

Bên cạnh đó, tỉnh cũng ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao trong sản xuất cây rau như: trồng rau thủy canh, rau nhà lưới, rau hữu cơ, rau đạt Viet GAP; đầu tư hỗ trợ thực hiện mô hình tập trung vào các vùng chuyên canh rau - hoa có giá trị kinh tế, các tổ hợp tác, hợp tác xã, trang trại, hộ cá thể đủ điều kiện sản xuất; xây dựng vùng nông nghiệp đô thị công nghệ cao phục vụ dân cư đô thị và khách du lịch ở thành phố Rạch Giá, thị xã Hà Tiên, huyện đảo Phú Quốc.

 

Cũng theo Ông Đỗ Minh Nhựt, đến nay tỉnh có nhiều sản phẩm nông, thủy sản đã được cấp giấy chứng nhận VietGAP gồm: 8,45 ha nuôi tôm sú luân canh trồng lúa; 21,1 ha chuối xiêm; 200 ha dứa Tắc Cậu; 6 ha rau màu và hơn 4 ha hồ tiêu đạt chứng nhận GlobalGAP; đặc biệt, mô hình sản xuất lúa hữu cơ đạt chứng nhận quốc tế USDA tại Hợp tác xã Thạnh An, xã Đông Thạnh, huyện An Minh…

 

Thời gian tới sẽ ứng dụng công nghệ cao trong trồng trọt, phát triển sản xuất hàng hóa theo hướng hiện đại, đạt năng suất, đảm bảo chất lượng, nâng cao giá trị gia tăng và bền vững. 

 

Thành Trăm