Liên minh hợp tác xã An Giang

Hoạt động chung Liên minh HTX

Xem với cỡ chữAA

Hợp tác xã ở An Giang đồng hành cùng đề án 1 triệu hecta

(14:03 | 14/09/2026)

Trong tiến trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp xanh, phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu, Đề án “Phát triển bền vững một triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” mở ra một hướng đi quan trọng đối với ngành hàng lúa gạo. Đây không đơn thuần là câu chuyện mở rộng diện tích sản xuất mà sâu xa hơn là một cuộc chuyển đổi về tư duy, phương thức tổ chức sản xuất và cách thức tạo ra giá trị. Với vị thế là một trong những địa phương có thế mạnh về sản xuất lúa gạo, An Giang có nhiều điều kiện để trở thành một trong những địa phương đi đầu trong triển khai Đề án. Trong quá trình đó, hợp tác xã (HTX) giữ vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ là nơi tập hợp nông dân mà HTX còn là cầu nối giữa người sản xuất với doanh nghiệp, nhà khoa học, cơ quan quản lý và thị trường; đồng thời là chủ thể tổ chức lại sản xuất theo hướng đồng bộ, chuyên nghiệp, hiệu quả và bền vững.

 

Hội thảo đánh giá kết quả sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại vùng nguyên liệu của HTX Nông Thuận Phát, xã Hòn Đất

 

Từ “sản xuất riêng lẻ” đến “cùng làm, cùng hưởng”

 

Một trong những yêu cầu cốt lõi của Đề án 1 triệu hecta là thay đổi phương thức sản xuất lúa theo hướng giảm chi phí đầu vào, nâng cao chất lượng, giảm phát thải khí nhà kính và tăng thu nhập cho nông dân. Đây cũng chính là bài toán mà các HTX ở An Giang đang từng bước giải quyết. Trong nhiều năm, sản xuất nông nghiệp của một bộ phận nông dân vẫn còn mang tính nhỏ lẻ, manh mún. Mỗi hộ có tập quán canh tác, lịch thời vụ, lượng giống, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật khác nhau. Điều này gây khó khăn cho việc hình thành vùng nguyên liệu đồng nhất, kiểm soát chất lượng và xây dựng liên kết ổn định với doanh nghiệp. Sự tham gia của HTX tạo ra một phương thức tổ chức sản xuất mới, thay vì từng hộ nông dân tự quyết định mọi khâu, thì nay HTX đứng ra điều phối lịch xuống giống, lựa chọn giống phù hợp, hướng dẫn quy trình kỹ thuật, cung ứng vật tư, tổ chức cơ giới hóa, thu hoạch và liên kết tiêu thụ. Quan trọng hơn, HTX giúp hình thành tư duy sản xuất theo vùng, theo quy trình và theo yêu cầu của thị trường.

 

Khi người nông dân tham gia HTX, họ không chỉ bán lúa mà từng bước trở thành thành viên của một chuỗi giá trị. Còn HTX không chỉ cung cấp dịch vụ đầu vào mà phải hướng đến vai trò tổ chức sản xuất, quản lý chất lượng, xây dựng thương hiệu và kết nối thị trường. Đây chính là nền tảng để Đề án 1 triệu hecta đi vào thực chất.

 

HTX là “hạt nhân” tổ chức vùng sản xuất

 

Để giảm phát thải trong sản xuất lúa, không thể chỉ vận động từng hộ nông dân thay đổi một vài thao tác kỹ thuật. Việc giảm lượng giống gieo sạ, sử dụng phân bón hợp lý, quản lý nước hiệu quả, giảm thuốc bảo vệ thực vật, thu gom và xử lý rơm rạ... cần được thực hiện đồng bộ trên cả cánh đồng. Trong điều kiện đó, HTX có lợi thế lớn. HTX có thể xây dựng quy chế sản xuất chung, thống nhất lịch thời vụ, tổ chức tập huấn kỹ thuật và giám sát việc thực hiện quy trình. HTX cũng có thể phối hợp với doanh nghiệp, cơ quan chuyên môn và các đơn vị liên quan để đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng. Đặc biệt, HTX là nơi trực tiếp tuyên truyền, vận động thành viên thay đổi nhận thức.

 

Muốn giảm phát thải, trước hết phải giảm những đầu vào không cần thiết. Muốn nâng cao chất lượng lúa gạo, phải kiểm soát ngay từ khâu giống, đất, nước, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Muốn bán được giá cao, phải đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường. Những vấn đề tưởng như rất lớn đó lại bắt đầu từ những thay đổi rất cụ thể trên từng thửa ruộng. Khi HTX tổ chức tốt, hàng trăm hộ nông dân có thể cùng thực hiện một quy trình. Khi đó, “cánh đồng lớn” không chỉ lớn về diện tích mà còn lớn về mức độ đồng nhất của sản phẩm và quy trình sản xuất.

 

Giảm phát thải phải gắn với tăng thu nhập

 

Một trong những điểm quan trọng của Đề án là không đặt mục tiêu giảm phát thải tách rời khỏi mục tiêu nâng cao đời sống người trồng lúa. Đối với nông dân, một quy trình sản xuất chỉ thực sự bền vững khi giúp họ giảm chi phí, nâng cao năng suất, chất lượng và thu nhập. Vì vậy, HTX cần chuyển mạnh từ tư duy “sản xuất nhiều” sang “sản xuất hiệu quả”.

 

Giảm lượng giống gieo sạ hợp lý có thể góp phần tiết kiệm chi phí. Sử dụng phân bón đúng nhu cầu của cây trồng giúp giảm đầu vào và hạn chế tác động đến môi trường. Quản lý nước phù hợp vừa tiết kiệm tài nguyên vừa góp phần giảm phát thải. Cơ giới hóa đồng bộ giúp giảm lao động thủ công, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả. Bên cạnh đó, việc quản lý và sử dụng rơm rạ theo hướng tuần hoàn cũng mở ra những giá trị mới. Rơm rạ có thể được thu gom, xử lý, tái sử dụng làm nguyên liệu phục vụ sản xuất nông nghiệp hoặc các ngành kinh tế khác, thay vì xử lý theo phương thức gây ảnh hưởng đến môi trường. Nếu tổ chức tốt, những thay đổi về kỹ thuật sẽ không chỉ tạo ra lợi ích môi trường mà còn tạo ra lợi ích kinh tế. Đây chính là điểm mà HTX cần làm rõ với thành viên: giảm phát thải không phải là thêm một gánh nặng cho người nông dân, mà phải trở thành một phương thức để giảm chi phí và tạo thêm giá trị.

 

Liên kết doanh nghiệp, chìa khóa để Đề án thành công

 

Một trong những hạn chế của sản xuất nông nghiệp lâu nay là tình trạng “được mùa, mất giá”, liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ chưa bền vững. Đề án 1 triệu hecta đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng và tính ổn định của vùng nguyên liệu. Do đó, HTX phải chủ động tìm kiếm, xây dựng và duy trì mối quan hệ với doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần vùng nguyên liệu ổn định; HTX cần thị trường ổn định; nông dân cần đầu ra và giá trị sản phẩm cao hơn. Ba lợi ích này có thể gặp nhau thông qua các hợp đồng liên kết chặt chẽ. Trong chuỗi đó, HTX có vai trò tổ chức vùng nguyên liệu, kiểm soát quy trình và tập hợp sản lượng. Doanh nghiệp cung cấp yêu cầu về chất lượng, hỗ trợ kỹ thuật, tiêu chuẩn sản phẩm và tổ chức thu mua, chế biến, tiêu thụ. Người nông dân trực tiếp sản xuất theo quy trình thống nhất.

 

Đại biểu và thành viên HTX Nông Thuận Phát trực tiếp tham gia Đề án chụp ảnh lưu niệm tai buổi hội thảo

 

Nếu mối liên kết được xây dựng trên cơ sở minh bạch, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm, chuỗi giá trị lúa gạo sẽ bền vững hơn. Đối với An Giang, đây là cơ hội để nâng tầm hạt gạo địa phương. Thay vì chỉ cạnh tranh bằng sản lượng, ngành hàng lúa gạo có thể từng bước cạnh tranh bằng chất lượng, tiêu chuẩn, câu chuyện sản phẩm và giá trị môi trường.

 

Tạo dựng thương hiệu từ vùng lúa chất lượng cao, phát thải thấp

 

Một lợi thế lớn của Đề án là mở ra cơ hội xây dựng hình ảnh mới cho hạt gạo Việt Nam. Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sức khỏe, môi trường và tính bền vững, những sản phẩm được sản xuất theo quy trình giảm phát thải, tiết kiệm tài nguyên và bảo đảm chất lượng sẽ có lợi thế trên thị trường. HTX An Giang cần nhìn xa hơn câu chuyện bán lúa nguyên liệu. Cần từng bước xây dựng thương hiệu, bao bì, câu chuyện sản phẩm và thị trường tiêu thụ. Một sản phẩm gạo có thể được giới thiệu không chỉ bằng giống lúa hay chất lượng hạt gạo, mà còn bằng câu chuyện: sản xuất ở đâu, do HTX nào tổ chức, người nông dân thực hiện quy trình gì, giảm được bao nhiêu đầu vào, bảo vệ môi trường ra sao và giá trị được chia sẻ như thế nào trong chuỗi. Đó chính là cách biến giá trị “xanh” thành giá trị kinh tế.

 

Để người nông dân là trung tâm

 

Suy cho cùng, mọi mục tiêu của Đề án đều phải hướng đến người nông dân. Người nông dân phải là chủ thể của quá trình chuyển đổi, chứ không chỉ là người thực hiện các quy trình được đưa xuống từ bên trên. HTX có trách nhiệm giúp thành viên hiểu rõ lợi ích của việc tham gia chuỗi liên kết; đồng thời bảo đảm tính minh bạch trong cung ứng vật tư, dịch vụ, thu mua và phân phối lợi ích. Khi người nông dân thấy rõ rằng tham gia HTX giúp giảm chi phí, giảm rủi ro, có thị trường ổn định và nâng cao thu nhập, họ sẽ tự nguyện tham gia sâu hơn, đây là yếu tố quyết định sự thành công lâu dài của Đề án.

 

Đề án 1 triệu hecta là một bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển ngành hàng lúa gạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đối với An Giang, đây vừa là trách nhiệm, vừa là cơ hội để phát huy thế mạnh sản xuất lúa, nâng cao giá trị nông sản và cải thiện đời sống nông dân. Trong hành trình ấy, HTX cần được xác định là một trong những chủ thể trung tâm. HTX tổ chức nông dân; HTX kết nối doanh nghiệp; HTX đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất; HTX thúc đẩy chuyển đổi số; HTX kiểm soát chất lượng và góp phần xây dựng thương hiệu. Quan trọng hơn, HTX tạo ra sự đồng thuận giữa các hộ nông dân trên cùng một vùng sản xuất.

 

Để làm được điều đó, cần tiếp tục củng cố HTX theo hướng thực chất, nâng cao năng lực quản trị, tăng cường đào tạo cán bộ, mở rộng liên kết với doanh nghiệp và hình thành những vùng nguyên liệu có quy trình sản xuất đồng bộ. Cùng với đó, cần có chính sách hỗ trợ phù hợp để HTX mạnh dạn đầu tư cơ sở vật chất, máy móc, công nghệ số, hệ thống truy xuất nguồn gốc và các dịch vụ phục vụ thành viên. Một triệu hecta không chỉ là một con số về diện tích, đó là một hành trình chuyển đổi từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp; từ sản xuất riêng lẻ sang liên kết; từ chạy theo sản lượng sang nâng cao chất lượng; từ khai thác tài nguyên sang sử dụng hiệu quả và phát triển xanh.

 

Trong hành trình ấy, mỗi HTX An Giang có thể trở thành một “mắt xích xanh” trong chuỗi giá trị lúa gạo. Khi HTX mạnh, nông dân có tổ chức; Khi nông dân có tổ chức, vùng nguyên liệu được hình thành; Khi vùng nguyên liệu được quản lý tốt, doanh nghiệp có điều kiện đầu tư và thị trường được mở rộng; Và khi lợi ích kinh tế gắn với lợi ích môi trường, mục tiêu phát triển bền vững mới thực sự đi vào cuộc sống. Đồng hành cùng Đề án 1 triệu hecta vì thế cũng chính là cơ hội để HTX An Giang đổi mới chính mình, trở thành những tổ chức kinh tế nông nghiệp hiện đại, xanh, chuyên nghiệp và đủ sức đồng hành cùng người nông dân trong một giai đoạn phát triển mới.

 

Đề án 1 triệu hecta cũng đặt ra yêu cầu ngày càng cao về quản lý dữ liệu và truy xuất nguồn gốc. Đây là lĩnh vực mà các HTX cần đặc biệt quan tâm. Trong tương lai, HTX không chỉ cần biết mình có bao nhiêu hecta sản xuất mà cần quản lý được từng vùng sản xuất, giống gì được sử dụng, thời điểm gieo sạ, lượng vật tư đầu vào, quy trình chăm sóc, thời điểm thu hoạch và sản lượng. Việc ứng dụng công nghệ số sẽ giúp HTX từng bước hình thành cơ sở dữ liệu sản xuất. Những dữ liệu này vừa phục vụ công tác quản trị, vừa là căn cứ để truy xuất nguồn gốc và chứng minh quá trình sản xuất với doanh nghiệp, thị trường.

 

Chuyển đổi số vì vậy không còn là câu chuyện xa vời đối với HTX, nó có thể bắt đầu từ những công cụ đơn giản: quản lý danh sách thành viên, diện tích sản xuất, nhật ký đồng ruộng, lịch mùa vụ, lượng vật tư sử dụng và sản lượng thu hoạch. Khi có dữ liệu, HTX có cơ sở để quản trị tốt hơn. Khi quản trị tốt, HTX có khả năng đàm phán tốt hơn với doanh nghiệp. Và khi sản phẩm có thể truy xuất, chứng minh được quy trình sản xuất, giá trị hạt gạo cũng có cơ hội được nâng lên.

 

Nâng cao năng lực quản trị HTX

 

Đồng hành cùng Đề án 1 triệu hecta cũng đặt ra yêu cầu phải nâng cao chất lượng hoạt động của HTX. Nếu HTX chỉ dừng ở việc cung ứng một số dịch vụ cho thành viên thì khó có thể đảm nhận vai trò tổ chức vùng nguyên liệu lớn. HTX cần trở thành một tổ chức kinh tế thực sự, có chiến lược sản xuất kinh doanh, có đội ngũ cán bộ quản lý đủ năng lực và có khả năng kết nối thị trường. Đội ngũ cán bộ HTX cần được đào tạo về quản trị, tài chính – kế toán, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh, đàm phán hợp đồng, quản lý chất lượng, chuyển đổi số và phát triển thị trường.

 

Đặc biệt, cán bộ HTX phải hiểu được yêu cầu của Đề án để chuyển hóa những mục tiêu lớn thành những việc cụ thể trên đồng ruộng. Liên minh HTX tỉnh sẽ tiếp tục phối hợp với cơ quan chuyên môn, các viện, trường và doanh nghiệp tăng cường phối hợp đào tạo, tư vấn và hỗ trợ HTX. Nội dung đào tạo phải xuất phát từ nhu cầu thực tế, “cầm tay chỉ việc”, gắn với từng vùng sản xuất và từng ngành hàng. Đào tạo không chỉ để có thêm kiến thức mà phải giúp HTX làm được, quản trị được và phát triển được.

Bài và Ảnh: TT