Liên minh hợp tác xã Kiên Giang

Điểm tin

Xem với cỡ chữAA

Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết 10 năm thực hiện Đề án “An ninh lương thực quốc gia đến năm 2020”

(10:37 | 23/03/2020)

Ngày 18/3/2020, đồng chí Nguyễn Xuân Phúc - Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ chủ trì Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết 10 năm thực hiện Kết luận số 53-KL/TW ngày 5/8/2009 của Bộ Chính trị về Đề án "An ninh lương lực quốc gia đến năm 2020".

Quang cảnh tại đầu cầu Chính phủ (Nguồn chinhphu.vn)

Tham dự Hội nghị tại điểm cầu Kiên Giang có đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội đơn vị tỉnh Kiên Giang; đồng chí Đặng Tuyết Em, Phó bí thư Thường trực tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Kiên Giang; cùng các sở, ngành tỉnh dự.

Ngày 05/8/2009, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 53-KL/TW về Đề án "An ninh lương thực quốc gia đến năm 2020. Sau 10 thực hiện Đề án, sản xuất nông nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao, phát triển theo hướng hiện đại, bền vững. Kết quả sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2009-2019 GDP toàn ngành nông nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng khá đạt 2,61%/năm; về trồng trọt, giá trị sản xuất tăng 2,9%/năm; kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 8,99%/năm, đã có 07 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 01 tỷ USD/năm; trong các sản phẩm, cây ăn quả có diện tích tăng nhanh nhất gần 150.000 ha; sản lượng lúa tăng từ 39,17 triệu tấn lên 43,4 triệu tấn.

Chăn nuôi: giá trị sản xuất tăng 5,2%/năm; sản lượng thịt hơi các loại tăng 35,8% so với năm 2009, trong đó thịt lợn hơi tăng 25,7%, thịt gia cầm tăng 2,1 lần, sữa các loại tăng 3,36 lần; trứng tăng 2,13 lần. Thủy sản giá trị sản xuất tăng 3,91%/năm, sản lượng thủy sản tăng từ 4,85 triệu tấn lên 8,2 triệu tấn năm 2019. Phát triển cơ sở hạ tầng thủy lợi đảm bảo tưới cho 7,2 triệu ha đất trồng lúa, chiếm 95% diện tích lúa và tiêu cho 1,72 triệu ha đất nông nghiệp: trồng trọt đã công nhận 685 giống cây trồng; trong đó, công nhận chính thức 180 giống lúa, 20 giống ngô.

 Chăn nuôi: đã công nhận 26 dòng/tổ hợp lai vật nuôi mới; làm chủ công nghệ chọn tạo giống lợn. Sở hữu bộ giống gia cầm phong phú, đa dạng, có năng suất và chất lượng cao. Về thủy sản: đã công nhận 13 giống thủy sản mới, đáp ứng 25% thị phần con giống tôm thẻ chân trắng chất lượng; giống cá tra bố mẹ chất lượng đã được đưa vào sản xuất, nâng cao tăng trưởng trên 20%. Đẩy mạnh chế biến, ứng dụng cơ giới hóa đồng bộ, mức độ tổ thất sau thu hoạch lúa giảm từ 13% xuống còn 10%; chăn nuôi quy mô trang trại, công nghiệp đối với lợn chiếm trên 35%, với gà trên 40%, với trâu bò trên 45%. Xây dựng vùng sản xuất an toàn dịch bệnh, ứng dụng công nghệ cao, áp dụng quy trình thực hành sản xuất tốt. Diện tích đã dồn điền đổi thửa là 639,7 nghìn ha, chiếm 6% đất sản xuất nông nghiệp; cả nước có 2.294 xã tiến hành dồn điền đổi thửa, chiếm 25,6% tổng số xã. Sản xuất lương thực, thực phẩm theo các tiêu chuẩn VietGap, GlobalGap đã dần quen thuộc với người dân.

 Công tác quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp, vệ sinh an toàn thực phẩm được chú trọng thông qua phát triển lực lượng kiểm soát chất lượng và an toàn thực phẩm; nâng cấp, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng quản lý chất lượng. Về đào tạo nguồn nhân lực theo Đề án “1956” đã gắn chặt với thực hiện cơ cấu lại ngành và xây dựng nông thôn mới, tăng cường đào tạo nông dân nòng cốt, đào tạo theo nhu cầu thị trường, giai đoạn 2009-2019 cả nước đã đào tạo được 9,6 triệu lao động nông thôn, trong đó có 1.084 nghìn/1.400 nghìn lao động nông thôn học nghề nông nghiệp, trên 90% lao động sau khi học nghề có việc làm mới hoặc tiếp tục làm nghề cũ nhưng thu nhập cao hơn.

 Chính sách kinh tế, ngân sách Trung ương đã hỗ trợ các địa phương theo Nghị định 42, Nghị định 35 của Chính phủ 4.300 tỷ đồng/năm. Về thu mua tạm trữ lúa gạo giai đoạn 2009-2015 đã hỗ trợ 984,57 tỷ đồng (các năm 2016-2019 không hỗ trợ lãi suất tạm trữ lúa, gạo). Về kinh doanh xuất khẩu gạo, hiện có 143 thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo với tổng lượng kho chứa thóc, gạo đạt trên 5,34 triệu tấn. Thời gian qua, tăng trưởng dư nợ tín dụng lĩnh vực lúa gạo đạt 26%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế, đến hết năm 2018 dư nợ đạt 99.227 tỷ đồng (trong đó vùng đồng bằng Sông Cửu Long 50%). Chính sách xã hội giai đoạn 2008-2012 đã trợ cấp cho 62 huyện nghèo với 9.954 tấn gạo. Thực hiện dự trữ quốc gia đối với lúa gạo, trong 10 năm đã nhập mua dự trữ 1,699 triệu tấn gạo và 0,804 triệu tấn thóc, thành tiền là 20.532 tỷ đống.

 Kinh tế tập thể hợp tác xã phát triển tốt, đến cuối năm 2019 cả nước có 45 liên hiệp HTX nông nghiệp và 15.300 hợp tác xã, gấp 2,19 lần năm 2008, trong đó có trên 70% số HTX hoạt động có hiệu quả. Kinh tế hộ tiếp tục được hỗ trợ và tổ chức theo hướng quy mô lớn hơn. Kinh tế trang trại đã phát triển 36.000 trang trại; có 12.581 doanh nghiệp (tăng 5,02 lần so với năm 2007), nhiều doanh nghiệp trở thành nòng cốt của chuổi giá trị sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Đến nay cả nước có 579,3 nghìn ha cánh đồng lớn, trong đó diện tích trồng lúa 516,9 nghìn ha (chiếm 89,2%) đã phát triển mô hình chuổi với 1.484 chuổi (tăng 1.040 chuổi so với năm 2016), 2.374 sản phẩm và 3.267 địa điểm bán sản phẩm đã kiểm soát theo chuổi. Việc thực hiện Đề án đã góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò, mục đích, ý nghĩa của phát triển lương thực, thực phẩm nhằm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Giai đoạn 2009-2019 sản lượng lúa tăng từ 39,17 triệu tấn lên 43,4 triệu tấn; bình quân lương thực đầu người tăng từ 497kg/năm lên 525kg/năm, đưa Việt Nam vào nhóm 6 nước hàng đầu về chỉ số này và vai trò của Việt Nam trong hỗ trợ an ninh lương thực cho các quốc gia khác ngày càng tăng.

 So với mục tiêu đến năm 2020 tại Kết luận 53-KL/TW và Nghị quyết số 63/NQ-CP, dự kiến có 14 chỉ tiêu đạt và vượt, đó là: 03 chỉ tiêu về lúa gạo; 02 chỉ tiêu về rau; 02 chỉ tiêu về cây ăn quả; 02 chỉ tiêu về chăn nuôi; 03 chỉ tiêu về thủy sản; 02 chỉ tiêu về đảm bảo khả năng tiếp cận lương thực. Về thị trường tiêu thụ, đối với hệ thống tiêu thụ nội địa, triển khai thực hiện quy hoạch phát triển hệ thống phân phối lương thực và quy hoạch tổng thể phát triển mạng lưới chợ toàn quốc đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 góp phần đảm bảo ổn định thị trường đầu ra cho sản xuất lúa, ổn định thị trường nội địa. Đối với hệ thống tiêu thụ xuất khẩu, thực hiện Đề án “Thương hiệu gạo Việt Nam” và Chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu gạo giai đoạn 2017-2020 định hướng đến năm 2030; thị trường xuất xem là cột mốc quan trọng với mức xuất khẩu 6,16 triệu tấn, giá trỉ,06 tỷ USD; gạo Việt Nam đã xuất khẩu đến 150 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Thời gian qua, đã phát triển sản xuất lương thực thực phẩm hàng hóa theo hướng tập trung, quy mô lớn, nhờ đó, tình trạng thiếu dinh dưỡng được cải tiến đáng kể, giảm từ 18,2% trong giai đoạn 2004-2006 xuống còn 10,8% hiện nay. Sự đa dạng trong chế độ ăn uống cũng tăng với xu hướng giảm tỷ lệ tiêu thụ ngũ cốc, tăng tỷ thịt, cá, sữa, trứng và giữ không đổi tỷ lệ trái cây, rau quả. Việt Nam không chỉ tự đảm bảo an ninh lương thực, mà còn góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho nhiều quốc gia khác, mỗi năm xuất khẩu từ 5 đến 7 triệu tấn gạo.

Trần Thanh Dũng